Thứ Năm, 22 tháng 8, 2013

Quản lý khai sinh, khai tử còn hạn tốt hơn chế vì… chưa có luật.

V

Quản lý khai sinh, khai tử còn hạn chế vì… chưa có luật

, Gây bất ổn về mặt tâm lý và bất cập khi dùng. Quang Minh.

975 quyển. Cùng với đó, mỗi người dân hiện đang phải tự lưu giữ, bảo quản nhiều loại giấy tờ hộ tịch như Giấy khai sinh, Giấy chứng thực hôn phối, Giấy khai tử, Giấy chứng nhận nuôi con nuôi v. Sau cách mệnh tháng Tám năm 1945, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch được nhà nước ta tiếp chuyện duy trì và phát triển.

Việc tra cứu, vỡ hoang thông báo hộ tịch để phục vụ đề nghị của người dân và cơ quan, tổ chức trong nhiều trường hợp không đáp ứng được, nhất là trong điều kiện chưa có cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử. Những kết quả đạt được trong những năm qua cho thấy, công tác hộ tịch ngày càng khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng đối với quản lý nhà nước và từng lớp, góp phần đảm bảo ngày một tốt hơn quyền, ích hợp pháp của công dân.

Thực hành các quy định của Bộ luật, Luật, Nghị định của Chính phủ, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch ở nước ta đã có những bước phát triển tương đối ổn định, đạt được những kết quả cụ thể như: công tác xây dựng thể chế được tăng cường với nhiều văn bản quy phạm luật pháp đã được ban hành; hệ thống cơ quan quản lý, đăng ký hộ tịch và đội ngũ cán bộ làm thuê tác hộ tịch từ Trung ương đến cấp xã được củng cố, kiện toàn một bước; dữ liệu hộ tịch được hình thành với hệ thống sổ sách về hộ tịch được lưu trữ, sử dụng lâu dài; canh tân thủ tục hành chính trong đăng ký và quản lý hộ tịch được đẩy mạnh, ngày một tạo tiện lợi cho người dân trong đăng ký hộ tịch; công tác tuyên truyền, phổ biến luật pháp hộ tịch ngày càng được quan tâm; việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký hộ tịch được khai triển ở một số địa phương; đăng ký hộ tịch có nhân tố nước ngoài có nhiều chuyển biến hăng hái.

Bị sức ép vì quá nhiều loại sổ sách, giấy tờ  Theo nhận định của Bộ Tư pháp, trong bối cảnh giang sơn bước sang giai đoạn phát triển mới, tiến trình công nghiệp hóa, đương đại hóa, hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, với việc dịch chuyển dân cư trong nước và quốc tế ngày càng gia tăng thì công tác đăng ký và quản lý hộ tịch đã biểu hiện nhiều hạn chế, bất cập.

Dự thảo Luật không quy định thẩm quyền, thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch, nuôi con nuôi – là những vấn đề tuy có liên hệ đến lĩnh vực hộ tịch – nhưng được Luật quốc tịch Việt Nam, Luật Nuôi con nuôi điều chỉnh.

Ngày 8/5/1956, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 764/TTg kèm theo Bản Điều lệ hộ tịch; ngày 16/1/1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 04/CP, kèm theo Bản Điều lệ đăng ký hộ tịch mới thay thế. Tại Tờ trình Chính phủ về dự án Luật Hộ tịch, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường khẳng định: “Những bất cập, hạn chế trên đây vừa ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, gây khó khăn, phiền hà cho người dân, vừa ảnh hưởng đến chất lượng đăng ký và quản lý hộ tịch, làm giảm hiệu quả công tác quản lý dân cư, quản lý quốc gia và từng lớp.

Điều đó gây ảnh hưởng đến uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế”. Chính phủ đang tiếp thụ các quan điểm góp ý, chỉnh lý dự thảo Luật Hộ tịch nhằm tạo cơ sở pháp lý lâu dài, ổn định và hợp nhất cho công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, khắc phục những tồn tại, bất cập và tạo sự chuyển biến mạnh mẽ công tác này theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, hợp với đề nghị phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

Do luật pháp quy định mỗi sự kiện hộ tịch được ghi vào một sổ riêng như: Sổ đăng ký khai sinh, Sổ đăng ký thành hôn, Sổ đăng ký khai tử, Sổ đăng ký nuôi con nuôi v.

Sang trọng các thời kỳ phong kiến, thực dân, hộ tịch luôn gắn liền với vấn đề quản lý con người, bên cạnh vấn đề quản lý đất đai (“đinh”, “điền”) - là hai vấn đề luôn được quan hoài thực hiện một cách bài bản, có hệ thống.

Từ đó đến nay, cứ vào quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình và các luật hệ trọng khác, Chính phủ đã ban hành tổng cộng 8 Nghị định điều chỉnh lĩnh vực hộ tịch, bao gồm cả hộ tịch trong nước và hộ tịch có nguyên tố nước ngoài. V. 500. Điều đó cho thấy công tác hộ tịch đóng vai trò khôn cùng quan yếu và luôn phải được duy trì trong bất cứ hoàn cảnh nào. Theo ý thức Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì các thể lệ đăng ký hộ tịch đã được quy định trong Bộ Dân luật giản yếu được ứng dụng ở Nam kỳ, Hoàng Việt hộ luật được áp dụng ở Trung kỳ và Dân luật Bắc kỳ, vẫn nối được áp dụng ở Việt Nam.

Bây giờ vẫn tồn tại 03 cấp (tỉnh, huyện, xã) có thẩm quyền đăng ký hộ tịch, dẫn đến chồng chéo giữa chức năng quản lý và đăng ký hộ tịch.

Mặt khác, các sự kiện hộ tịch của một người được đăng ký ở nhiều nơi, nhiều cấp, ở trong nước và cả ở nước ngoài, đã dẫn đến tình trạng dữ liệu hộ tịch bị phân tán, không xâu chuỗi, kết nối được với nhau; cơ quan đăng ký hộ tịch không quản lý được đầy đủ các dữ liệu hộ tịch cá nhân, không nắm được sự di, biến động về hộ tịch trong địa bàn dẫn đến việc rà soát thông tin hộ tịch của cá nhân.

Ảnh minh họa  Hộ tịch: vấn đề được mọi chế độ quan hoài  Các sự kiện hộ tịch cơ bản của mỗi con người từ khi sinh ra đến khi chết đều được đăng ký, bao gồm: khai sinh, hôn phối, ly hôn, nuôi con nuôi, giám hộ, thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, khai tử… Ở nước ta, vấn đề đăng ký và quản lý hộ tịch có lịch sử từ thời nhà Trần. Cũng theo nhận định của Bộ Tư pháp, việc dồn 2 việc có thuộc tính khác nhau là hộ tịch và tư pháp cho 1 chức danh công chức Tư pháp - Hộ tịch ở cấp xã cũng dẫn đến thiếu tính chuyên nghiệp, không đáp ứng kịp thời yêu cầu của người dân.

738 quyển; Sổ đăng ký khai tử 352. Tính đến tháng 6/2012, trên cả nước hiện đang lưu giữ gần 1. Dự thảo Luật Hộ tịch quy định nội dung, nguyên tắc đăng ký hộ tịch; quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch; thẩm quyền, thủ tục đăng ký, cấp xác nhận hộ tịch; cơ sở dữ liệu hộ tịch; Hộ tịch viên; nghĩa vụ của cơ quan quốc gia trong quản lý hộ tịch. Bên cạnh đó, trên phương diện quốc tế, trong nhiều trường hợp, giấy má hộ tịch chưa có sự tin tưởng cao đối với cơ quan có thẩm quyền nước ngoài; một số nước chưa tin tức giấy tờ hộ tịch của Việt Nam.

, Nên đến nay hệ thống sổ hộ tịch là khá lớn. Thứ hai, luật pháp hiện hành tuy đã có sự phân cấp mạnh việc đăng ký hộ tịch cho chính quyền cơ sở, nhưng chưa triệt để. 475 quyển; Sổ đăng ký thành thân 454.

000 quyển sổ hộ tịch, trong đó: Sổ đăng ký khai sinh 680. Thứ ba, việc tồn tại nhiều loại sổ sách, giấy má về hộ tịch, gây nhiều sức ép trong việc lưu giữ, bảo quản và dùng.

Bên cạnh đó, tình trạng lợi dụng việc đăng ký hộ tịch (khai sinh, khai tử…) nhằm mục đích cá nhân chủ nghĩa, trục lợi hoặc trốn tránh luật pháp, gây phức tạp về trật tự an ninh từng lớp có dấu hiệu gia tăng.

Thứ nhất, hệ thống văn bản quy phạm luật pháp về hộ tịch tuy nhiều, nhưng chủ yếu là Nghị định, Thông tư, chưa có đạo luật riêng về hộ tịch, nên hiệu lực thi hành còn hạn chế; quy định trong nhiều văn bản dẫn đến phức tạp, khó vận dụng đối với người dân và cơ quan đăng ký hộ tịch.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét