Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra: Tính tầng lớp, bản chất chế độ XHCN và nguyên tắc công bằng (theo quy định tại Điều 10-Luật Giáo dục năm 2005, Luật sửa đổi 2009) cũng như mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực CLC cho Thủ đô và cả nước của nền giáo dục XHCN liệu có còn tồn tại ở Thủ đô XHCN hay không? Báo Đất Việt đã có cuộc thảo luận nhanh với ông Vương Toàn Thắng - Trưởng phòng tổng hợp, Vụ các vấn đề chung về xây dựng pháp luật hệ trọng đến vấn đề này.
PV:-Dựa vào nguyên tắc nào khi Vụ soạn thảo, xây dựng và đưa ra quy định về chính sách phát triển giáo dục trong Luật Thủ đô, thưa ông? Ông Vương Toàn Thắng:- Tại Điều 12 của Luật Thủ đô quy định chính sách phát triển giáo dục đào tạo. Trong đó xác định hai mục tiêu: - Phổ cập măng non, giáo dục phổ quát phải đạt chuẩn nhà nước - Phát triển mô hình dịch vụ trường công chất lượng cao Quy định này được coi là điểm nhấn trong Luật Thủ đô, nhằm đáp ứng như cầu của một số bộ phận có tiền trong xã hội. UBND TP. HN đã xây dựng quy định tiêu chuẩn về trường chất lượng cao, ban hành những cơ chế chính sách giáo dục với trường công lập chất lượng cao đã được Hội đồng quần chúng. # TP. HN duyệt y. Tuy nhiên, tại quy định này có vấn đề mà dư luận quan hoài là: tiêu chí thế nào được gọi là dịch vụ chất lượng cao và đối tượng nào vào học trường này. Việc kiểm định chất lượng cao được giám sát như thế nào để bảo đảm đầu vào và đầu ra. Trên địa bàn chỉ có một trường mà được công nhận chất lượng cao thì các học sinh ở đó sẽ như thế nào? Trước tiên, phải nhấn mạnh chủ trương này là tự nguyện, không ép nhưng vẫn phải thừa nhận băn khoăn của dư luận là một thực tiễn rất khó khăn. Chính thành ra Hà Nội đã thực hành thí nghiệm theo lộ trình đến năm 2016, những học trò tại trường này có quyền được chọn lọc nối học chương trình phổ cập hoặc có thể học chương trình nâng cao. Như vậy, những học trò này có thể được chuyển trường khác hoặc bằng lòng học lớp phổ cập nếu không muốn chọn lựa dịch vụ chất lượng cao. PV:- Quyền đồng đẳng trên bình diện tình nguyện nhưng học phí cao nhà giàu, có tiền mới tiếp cận được, không có tiền thì đứng ngoài. Vậy tính chất của dịch vụ công và bổn phận của nhà nước đối với nền giáo dục công có còn được đảm bảo, thưa ông? Ông Vương Toàn Thắng:- Quyền bình đẳng mà bạn nói ở đây đã đáp ứng đầy đủ: đồng đẳng trên bình diện tự nguyện và phụ thuộc vào nhu cầu của từng người một chứ không hề hạn chế. Tức là tiếp cận được nhưng thực hiện được hay không đó là việc của người dân, quốc gia không can thiệp. Không hề có chuyện bất bình đẳng ở đây. Dịch vụ chất lượng cao là mang thuộc tính dịch vụ, nó đáp ứng nhu cầu cho những người có điều kiện, có tiền con nhà phong lưu tiền thì theo học, con nhà nghèo không có tiền thì chẳng thể tham gia đó là nguyên tắc công bằng rất rõ ràng trong từng lớp. PV:- Thưa ông, nếu vậy, tính từng lớp, nguyên tắc công bằng cũng như mục tiêu đào tạo nguồn nhân công chất lượng cao cho Thủ đô có còn tồn tại ở Thủ đô tầng lớp Chủ Nghĩa nữa không? Ông Vương Toàn Thắng:- …(Lúng túng)…. Nếu nói vậy thì phải rất rạch ròi: Thứ nhất: Cũng phải dìm, quy định này là đang cố áp đặt nguyên tắc chung vào quy định riêng. Tức thị quy định đang cố lấy quyền đồng đẳng về thời cơ tiếp cận và điều kiện học tập để áp vào cái riêng của Hà Nội. Điều đó không ai dám phủ nhận. Thứ 2: liên hệ đến quyền và bổn phận của người dân đối với quốc gia là không phải như nhau. Quyền thì được hưởng như nhau, nhưng trách nhiệm là khác nhau. Ai có thu nhập cao phải đóng thuế cao, thu nhập thấp đóng thấp, ai khó quá thì được miễn giảm hoàn toàn. Vậy thì, người giàu, người có tiền đóng thuế cao hơn, nghĩa vụ của họ với quốc gia lớn hơn thì họ phải có quyền được tiếp cận dịch vụ công của quốc gia chất lượng cao hơn, đó cũng là bình đẳng về cả quyền và nghĩa vụ. Quy định này đảo bảo tính công- tư rất rõ ràng. Luật quy định nguyên tắc dịch vụ công là bảo đảm nguyên tắc chung, còn trong quá trình thực thi thì có thể thay đổi chứ không phải chung cho tuốt. PV: -Theo ông nói, tức thị cứ người giàu, người có tiền được tiếp cận dịch vụ chất lượng cao là thành tài, thành nguồn nhân công tiềm năng, còn người nghèo phải chấp nhận thân phận dân cày, chịu dốt suốt đời? Ông Vương Toàn Thắng:-Tôi dấn nó có khó khăn với người nghèo, nhưng đó là một thực tại mà xã hội đang đặt ra buộc chúng ta phải đối diện với thực tế đó. Người nghèo nếu không muốn thì phải nỗ lực. PV:- thực tiễn nhưng không công bằng với người nghèo khi trường công chất lượng cao đã lấy 20% ngân sách từ nguồn thuế của dân để hoạt động như trường tư lại phục vụ cho một nhóm người giàu, ông nghĩ sao? Ông Vương Toàn Thắng:-…(Lúng túng)... Chính sách đã được đặt ra rất rõ rồi, được quy định rất rõ trong luật cũng như văn bản của HN. Việc thực hành chính sách này cũng đang trong giai đoạn thí điểm 18 trường và tiến tới là 35 trường. Sờ soạng những vấn đề nêu trên Vụ sẽ có ý kiến đề nghị Hà Nội điều chỉnh, nhưng thu nạp đến đâu lại thuộc thẩm quyền của thành phố. Vấn đề mà bạn nói, nó hệ trọng trực tiếp đến tính hợp lý của văn bản. Trong ý kiến của Bộ Tư pháp và các bộ ngành nói chung đều yêu cầu nghiên cứu về tính hợp lý và đảm bảo cơ chế đặc thù đưa ra. Nếu văn bản đưa ra mà tính hợp lý không đảm bảo thực thi thì cũng chỉ là quy định trên giấy. Ở đây có hai điểm là tính hợp lý và tính thực thi. Có thể lúc soạn thảo chỉ nhìn thấy một vấn đề nhưng trong quá trình thực thi nó mới phát sinh nhiều vấn đề, việc ban hành văn bản rồi sửa đổi bổ sung cũng là bình thường. Đây là văn bản vừa mới ban hành, mới có hiệu lực trong quá trình thực thi thấy vấn đề nào nảy sinh thì có thể kiến nghị sửa đổi. Ở tầm nào sẽ kiến nghị sửa đổi tầm đó tỉ dụ văn bản, quyết nghị của đô thị sẽ kiến nghị với thành thị sửa đổi. Nếu là Luật thì sẽ kiến nghị Quốc hội sửa luật. Khi soạn thảo Dự thảo này có 14 văn bản liên tưởng. Quy định này đã được ưng chuẩn, theo quy định rà VBQPPL tại Nghị định 40 thì Cục KTVB sẽ có trách nhiệm rà soát. Xin cảm ơn ông! Nguyễn Vũ |
Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2013
Bộ Tư pháp:Kiến cập nhật nghị chỉnh quy định trường công chất lượng cao
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét