Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

Chuyện kỳ lạ về tán thưởng 'báu vật' trăm năm ở Thanh Hóa.

"Cả làng tôi bảo, tiền nhiều thì cũng quý nhưng không quý bằng chiếc nồi của bản Hiêu", vị trưởng thôn kể

Chuyện kỳ lạ về 'báu vật' trăm năm ở Thanh Hóa

Người dân nơi đây coi chiếc nồi như một phần hồn của bản. Người đang giữ chiếc niếng cổ là ông Hà Văn Tân (52 tuổi). Dân làng đưa việc này ra họp bàn với nhau nhưng không ai đồng ý bán. Lần đó, chiếc niếng bị sứt mất một miếng nhỏ ở miệng nhưng đồ xôi vẫn ngon.

Trước đây, nồi được để ở hội trường thôn, sau nhà nào có việc thì khiêng về, chỉ cần bảo quản, không làm nứt rạn là được. Ông Tân không rõ tuổi của niếng, chỉ biết nó có nhiều tuổi hơn những người già nhất trong làng này. Ông Lục con tạo, cán bộ đảm nhiệm văn hóa xã Cổ Lũng cho hay, dân quanh vùng này đều biết về chiếc niếng và nồi đồng cổ.

Họ cho rằng chúng cũng có hồn vía. Để làm nóng được nồi, lúc đầu rất tốn củi đun nhưng khi lửa đã bén, thức ăn chín rất nhanh.

"Nó là vật vô giá nên có trả cao mấy cũng không bán", người đàn ông Thái thực thà chia sẻ. Từ đó trở đi, chiếc nồi được coi như vật quý của làng, có việc gì đều mang ra dùng. Theo ông Tân, nếu không mang cơm cho chủ nhà thì xôi sẽ hỏng, phía trên chín nhưng phía dưới sống. Người mượn phải mang cho gia chủ một mâm cơm, gồm chai rượu, đĩa thịt và 3 gói xôi, gọi là lễ cúng hồn niếng, để mang nó ra khỏi nhà.

Người dân bản Hiêu (Pù Luông) còn giữ được chiếc nồi đồng cổ nặng gần trăm cân mà dân làng vẫn gọi là "nồi cơm Thạch Sanh". Chưa bao giờ thấy ai có quan điểm mang bán chiếc nồi hoặc có ý định nấu chảy thành đồng, dù nó khá to và nặng, chiếm một đa số góc nhà.

Dân làng Lác còn truyền tai nhau khá nhiều chuyện vui về chiếc niếng này. Xong việc, người dân mang nồi ra suối rửa sạch sẽ rồi đem cất. Nồi và niếng tạo thành một cặp "bảo vật" của Pù Luông. Trong vùng, nhiều chiếc niếng, chiếc xanh bằng đồng được giá bị người dân đem bán. Chiếc niếng tại bản Lác bằng đồng nặng gần 100 kg, cao khoảng 60 cm, nặng 35 kg và có hai quai để cầm.

Riêng nhà ông Tân, niếng to, niếng nhỏ bằng đồng vẫn đủ cả. Năm 1949, đồn Cổ Lũng được giải phóng, chính quyền xã giao cho bản Hiêu chiếc nồi đồng cổ tịch kí từ nhà quan lang để người dân bảo quản.

Niếng là một loại nồi đồ xôi của người dân tộc Thái. "Trong làng có nhiều niếng nhưng xôi đồ trong chiếc này vẫn ngon nhất", ông Tân khẳng định. Đó là những hiện vật từ thời phong kiến ở trong nhà quan lang, sang trọng biến cố, hiện được dân chúng giữ gìn, bảo vệ. Do đời sống khó khăn, nhiều món đồ đã bị người dân bán đi gần hết. Ông Ba kể, năm 2009 có nhóm buôn đồng ở xa đến hỏi mua chiếc nồi với giá 60 triệu đồng.

Lúc nấu, người dân đổ nước vào niếng, đặt hoong gỗ đựng gạo nếp lên trên. Nghe đồn về chiếc niếng, nhiều kẻ gian cũng dòm ngó vì cho rằng vật thiêng sẽ bán được giá.

Dân làng biết vậy nên mỗi khi mượn đồ, ai cũng cẩn thận trong lời ăn ngôn ngữ, không có những hành động khiếm nhã khiến chiếc niếng "nổi nóng". Bằng đồng gần gụi đời sống và có giá trị lịch sử, văn hóa vùng miền cao. Nhiều gia đình chuyển sang nấu nồi quân dụng, hoặc dùng niếng bằng nhôm

Chuyện kỳ lạ về 'báu vật' trăm năm ở Thanh Hóa

Bà Hà Thị Lệ, hàng xóm nhà ông Tân, nói rằng bà từng chứng kiến hậu quả này ở đám cưới người cháu trong làng. Chiếc nồi cao 1 m, đường kính hơn 1 m, đáy trũng sâu có thể nấu cho 200 người ăn cùng một lúc. Ông Tân cười bảo: "Nhà nào mượn mà không cúng thì nó cũng 'giở trò' một tẹo đấy".

Hiện chỉ còn chiếc niếng cổ do gia đình ông Tân giữ và chiếc nồi đồng ở bản Hiêu là còn vẹn nguyên", ông Quân nói. Nếu có người nói lời không hay khi nấu bằng niếng thì sẽ có những chuyện kỳ lạ xảy ra. Người dân bản Lác (trong khu bảo tồn tự nhiên Pù Luông, Bá Thước, Thanh Hóa) từ lâu truyền tai nhau những câu chuyện lạ về chiếc niếng cổ to nhất vùng.

Trong lúc nấu xôi, người làm bếp nói một câu bậy bạ, thốt nhiên gạo trong chiếc hoong tung lên, sôi sùng sục nhưng rút cuộc không chín. Người bản Hiêu quan niệm, khi nấu thức ăn phải dùng nước suối Hiêu thì cơm, canh mới ngọt nhạt.

Ông bảo, trước khi ông cụ thân sinh mất, từng dặn dò dù có chuyện gì cũng phải giữ cho bằng được bảo bối của gia đình. Bà cụ thân sinh ông Tân, năm nay hơn 90 tuổi, cho hay đây là vật gia truyền, hồi nhỏ bà đã thấy người thân dùng nó đồ xôi.

Ảnh  : Hoàng Phương. "Những hiện vật có giá trị lịch sử như cồng, chiêng, xanh, niếng. Nhiều người truyền khẩu, có lần bọn trộm khiêng niếng ra khỏi làng, nhưng rồi tự nhiên bị chảy máu mũi, không mang ra được đành vứt lại giữa đồng. Ảnh:  Hoàng Phương.

Trong quá trình nấu, phải xoành xoạch dùng tay để đẩy củi vào bếp, nếu dùng chân thì xôi cũng hỏng. Trong tiềm thức của người dân tộc Thái, những chiếc niếng, xanh đồng trong nhà rất thiêng. Chiếc nồi đồng cổ nặng 84 kg ở bản Hiêu có thể nấu được cho 200 người ăn cùng lúc. Thậm chí có người đánh xe từ Hà Nội vào trả cả trăm triệu đồng nhưng ông nhất thiết giữ lại.

Để cho vững chắc, ông Tân cất niếng lên gác nhà cùng với những món đồ đồng của gia đình. Nồi nặng 84 kg, phải 4 thanh niên to khỏe cùng nhấc mới nổi, trên nồi có hình đôi rắn quấn vào nhau.

Mỗi khi có đám cưới xin, ma chay, giỗ chạp, người làng Lác đều tới nhà ông Tân mượn niếng. Trong ký ức của anh Hà Văn Tùng (35 tuổi), hồi nhỏ đi ăn cỗ cưới, anh đã thấy người ta cắt thịt cả hai con bò rồi cho vào chiếc nồi vẫn vừa. Chủ nhà cho biết, nhiều người buôn đồng từ các nơi đến mua nhưng ông không bán. Khi đun nóng, hơi nước tỏa lên qua miệng niếng sẽ làm những hạt nếp nương nhanh chín, dẻo và thơm ngọt lạ lùng.

Chiếc niếng cổ để đồ xôi được gia đình ông Hà Văn Tân (bản Lác) gìn giữ như báu vật suốt bao năm nay. Chính quyền xã quán triệt người dân không bán mà giữ lại cho đời sau. Để múc đồ, phải dùng những chiếc muỗng dài cả mét thì mới múc được. Hoàng Phương. Khi đó, nhà đi mượn phải ngay tức thì mang cơm đến cho chủ chiếc niếng, rồi đổ xôi đi và nấu lại.

Thời kỳ chiến tranh, nồi được dân đào hầm chôn giấu kỹ để tránh bị đập phá và nấu chảy để lấy đồng. Ông Hà Thanh Ba, trưởng thôn, nói: "tất tật 41 hộ dân bản Hiêu đều mang họ Hà, uống chung nước suối Hiêu, ăn cơm chung trong nồi đồng cổ".

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét