Chị bỏ thị xã phố núi Yên Bái để xuống thủ đô Hà Nội, chốn phồn hoa và lắm say để bắt đầu lại từ đầu cuộc sống của mình. Trong khi ở Yên Bái chị đã sắp sửa bình yên với một thế cuộc khác khi làm cô giáo dạy học ở phố núi, bên cạnh là người chồng chỉn chu và cô con gái xót thương. Nhưng, những cơn mưa trắng trời nơi phố núi không làm cho Đặng Thị Thanh Hương an lòng với hạnh phúc bình dị. Sinh ra trót trong một ngày trời không nín gió, trót mang một trái tim đập những nhịp đập không bình yên, cuộc sống, khát vọng của Đặng Thị Thanh Hương nới rộng hơn cái chân mây ngày nay. Chị yêu thơ, và vì tình ái ấy, chị đã hiến mình, đã để cho thơ dẫn dắt mình đi trong những ngã rẽ bất ngờ của số. Đặng Thị Thanh Hương xuống Hà Nội và học Trường viết văn Nguyễn Du. Ngày đó, để có một chiếc vé thông hành đi vào con đường văn học, trở thành một thi sĩ, nhà văn chuyên nghiệp, ngoài việc sáng tác, hầu như những người viết văn, làm thơ khi đã chọn con đường văn chương đều thi vào Trường Viết văn Nguyễn Du. Được vào học Trường Viết văn Nguyễn Du là một diễm phúc lớn, một niềm tự hào đầy tự hào. Thời ấy, gần như quờ quạng những sinh viên từng tốt nghiệp Viết văn Nguyễn Du trong những khóa trước nhất đều trưởng thành và có tăm tiếng trên văn đàn. Hiến mình cho thi ca, nhưng Đặng Thị Thanh Hương đã bắt đầu những nếm trải nghiệt ngã bởi thơ là một vùng sáng thuần khiết và kỳ diệu trong tâm hồn nhưng đời thường với những áo cơm mệt mỏi không phải lúc nào cũng đủ sức để nuôi sống tâm hồn thơ. Quăng quật mình bươn chải chốn thành phố, Hà Nội đã mở rộng vòng tay với “ngựa non lạc phố”, cho chị cũng nhiều mà lấy đi của chị cũng không phải là ít. Nhưng tôi cứ nghĩ, với một người như Đặng Thị Thanh Hương, được và mất ở cuộc đời này có nghĩa lý chi khi ta được là mình, sống đúng mình mà không phải mang bất kỳ một chiếc mặt nạ nào khác. Đặng Thị Thanh Hương đã sống hết mình với con đường thơ mà chị đã chọn. Để nuôi sống thơ, chị đi làm báo, kinh dinh, và đưa cả gia đình xuống định cư ở Hà Nội. Tất tật những vứt, bươn chải ấy cũng chỉ một mục đích để có phương tiện đi được trên con đường thơ và nuôi nấng những xúc cảm thi ca. Mười lăm năm xuống phố, bằng cả quãng thời gian xiêu dạt của cô Kiều, Đặng Thị Thanh Hương sau những nhọc nhằn đã chắt chiu mang đến cho đời những câu thơ đẹp: “Cổ tích tình yêu”(1992), “Phiên bản”(1993), “Vọng đêm” (1997), “Những chiều mưa đi qua”(tập truyện ngắn năm 1997), “Những con ốc chờn ren” (2002) và mới đây nhất là “Trà nguội”(2008).
2.Nhìn vào chặng đường thơ của một người phụ nữ viết như chị, cho thấy chị lao động trường kỳ và không mệt mỏi. Con đường thơ của Đặng Thị Thanh Hương không ầm ĩ, không phá cách dữ dội, không làm nên những bùng nổ nhưng chị có được những câu thơ đẹp, những bài thơ đẹp xót xa nỗi buồn nhân thế. Chị là người nữ giới nhiều thương, nhiều rung động, vì thế mà nhiều đỗ vỡ, thất vọng. Những bài thơ rút ruột viết ra của người nữ giới với những trải nghiệm vui buồn đã qua, những trải nghiệm tình và sự mỏng mảnh bất trắc của đời sống. Sự mong manh bất trắc ấy rõ rệt qua “Những con ốc chờn ren’, nhưng đến “Trà Nguội” mới đây, những trải nghiệm ăn nhằm ấy dường như đã đóng đinh câu rút vào cuộc đời chị. Những câu thơ mới nhất trong tập thơ của người nữ giới tưởng vừa viên mãn với một hạnh phúc mới, vừa tìm được một bờ vai vững chãi bình yên, vậy mà đọc lên nghe vẫn xa xót đến chạnh lòng. Phải chăng, nỗi cô đơn là thứ tồn tại vĩnh cữu trong thế cục của những người nghệ sỹ: “Ta đến trong cuộc đời này/ Như một kẻ ăn xin hạnh phúc/ Nhọc nhằn đãi cát/ Tìm mãi chẵng thấy vàng rơi/ Chỉ thấy toàn đổ nát/ Những chuyến đò sang cấp/ Vừa bình minh thoắt đó đã chiều tàn/Vừa đi qua nhau chén trà đã nguội/ Hạnh phúc thống khổ không là mãi mãi/ Níu giữ tình ái nào được ích gì/ Ta đã đến thế cuộc này/ Cuồng nhiệt đam mê”. Tôi đã hỏi Đặng Thị Thanh Hương tại sao lại lấy tên “Trà nguội” cho tập thơ khi tác giả là chị- người nữ giới tuổi 40 vẫn còn rừng rực xuân thì. Chị đáp. “Mượn câu ngạn ngữ Trung Quốc: “Người vừa đi thì trà nguội” tôi muốn gửi gắm nỗi lòng mình trong đó. Cuộc sống đương đại khiến mọi sự đều dễ dãi, ái tình chợt đến chợt đi, vừa đi qua nhau thì chén trà đã nguội… Sự đến rồi đi, nhớ rồi quên của người ta là lẽ thường, cũng như mình thôi, nhạt thì nhớ chẵng để làm gì. Có lẽ làm được cái sự quên nhanh như thế mình cũng cần phải rèn luyện, nó giống như ý chí vậy, mà điều này ta chỉ thực hành được khi ta đã là người đàn bà biết đủ vị của thương xót tan vỡ. Mỗi tên sách là một ý tưởng xuyên suốt tập thơ mà tôi gửi gắm. Sau “Những con ốc chờn ren”, tôi đã dừng lại gần 6 năm để nhìn lại bản thân mình. Nhìn lại con đường mình đã đi đúng theo nghĩa cuộc sống lẫn trong văn học. 6 năm ấy biết bao lăm nếm trải, tôi đã là người phụ nữ bước sang bên này dốc cuộc đời. Cái tuổi hình như chẵng còn háo gì. Những khao khát tình, những bon chen cuộc sống, với tôi thật sự chỉ còn nằm trong những giấc mơ mình chưa làm được. Nhưng nếu hiện giờ có ai bảo đánh đổi và làm lại kiên cố tôi sẽ không làm, bởi tôi không có thời gian và sự liều lĩnh như ngày còn trẻ. Và cũng bởi trong mọi sự đổi thay cái mất sẽ nhiều hơn. Nhưng với ai cũng thế thôi, khi người ta đã đi gần hết chặng đường tuổi trẻ, chẳng thể không nhận ra những bài học cho riêng mình”. Tôi đã đọc tản mát những tập thơ của Đặng Thị Thanh Hương sau này. Những câu thơ của chị nhiều lần chạm vào tôi tê dại. Những chiêm nghiệm đau xót trào ra trong mỗi bài thơ trong mỗi câu thơ ít nhiều mang hình hài của mạng chị. Khát vọng sống mãnh liệt - yêu thật lòng- và đỗ vỡ cũng cùng tận là những thứ còn lại lèn chặt trong hành trang mà chị mang tới ngày bữa qua. Trong hai tập “Những con ốc chờn ren” và “Trà nguội”, hai bài thơ chị dành viết cho con gái yêu theo tôi là những bài thơ hay nhất. Chị chiêm nghiệm ra rằng, không có bài học nào của người đi trước dạy lại được cho người đi sau. Mọi vấp ngã trên con đường ấy sẽ lặp lại với từng số người mỗi không thể khác. “Lần đầu tiên con bước vào yêu/ Mẹ muốn kể con nghe mối ngọn ngành của mẹ/ Về một người đàn ông và những gì anh ta chia sẻ/ Cho con làm hành trang…/ Nhưng con yêu không giống mẹ ngày xưa/ Dù nỗi dại khờ thì không khác/ Nhìn nụ cười con mẹ biết mình bất lực/ Chẵng có bài học nào cho kẻ đang yêu/ Trên con đường màu xanh/ Những người đàn ông chợp chờn ẩn hiện/ Chỉ mong con nhận ra đầy hiểm nguy/ Rất nhiều hố sâu cạm bẫy trên đường…/ Cũng có thể những kinh nghiệm sẽ lớn theo con/ Khi đã xếp đầy ngăn những ký ức tình yêu vỡ/ Mẹ chỉ sợ trong ngăn kéo ấy/ Mãnh vỡ tình ái sẽ cứa nát tâm hồn/ Có thể khi yêu ta chết được cho người/ Vũ trụ giao hội vào anh ta hết/ Tới một ngày ánh hào quang lịm tắt/ Con mới nhận ra mình đã lỡ lầm…/ Biết nói gì với con dù trải nghiệm nhiều lần/ Mẹ mới nhận ra đàn ông đều thế cả/ Mới nhận ra ái tình mong mnah quá/ Mẹ chỉ còn nỗi trống lổng bình yên…/ hẳn nhiên rồi nắng vàng buổi trước nhất/ Mẹ vẫn biết nó đẹp và hư ảo/ Chỉ mong con chuẩn bị thêm khăn áo/ Sợ mùa đông lạnh lẽo đến bên đời/ Con tự mình làm ấm nỗi trơ tráo/ để đi qua những niềm đau vô nghĩa…/Cứ yêu đi và thật lòng con nhé”.(Viết cho ngày con bắt đầu yêu). 3.Dẫu có sống lại một cuộc đời khác, có trở về với vạch xuất hành trước hết thì hai chữ đa đoan e rằng không thoát khỏi chị như một sự an nhiên của tạo hóa. Lâu nay chị đang sống bình yên bên người chồng thương xót và cô con gái đã lớn vuột khỏi vòng tay mẹ. Hạnh phúc nhiều khi mỏng manh đấy mà vẫn hiện hữu và có thật, không phải trong những giấc mơ dài. Với tay đã chạm vào hạnh phúc, thế nhưng cuộc sống của người phụ nữ mang nặng hai chữ đa đoan như chị đâu thể đã vẹn tròn. Bấy lâu gặp chị, thấy chị đau đáu với gia đình, với mơ ước sinh thêm con và lo chạy chữa thuốc thang cho bố chị, và lo che chở cho con gái lớn của chị đã thấy chị mệt nhoài. Lúc nào cũng vội, cũng tăng tả xuôi ngược, ồ ạt đến rồi đi, chị vẫn mãi hoài mang những bước chân ngựa hoang của phố núi. Dù màu sắc phố phường bao lăm năm đã phôi pha trên đường đời chị, nhưng ẩn giấu phía sau bộ mặt búp bê xinh đẹp, ở chị vẫn toát lên vẻ chất phác sáng trong. Chị mãi vẫn là người phụ nữ tốt bụng, rộng rãi với mọi người (đi ăn cơm với chị không bao giờ chị để ai phải trả tiền. Ai khó khăn, chị đều nghĩ việc để giúp). Tôi đã từng chứng kiến những người bạn mà chị coi như em của chị, chị chìa tay ra cho họ đúng vào những lúc họ tuyệt vọng, khốn khổ và cầu bơ cầu bất nhất. Chị mang đến cho họ niềm tin vào cuộc sống, và một công việc để họ tồn tại. Có nhiều người trong số đó đã thành đạt từ những sự trợ giúp trước tiên của chị. Với người nhà, chị sẵn sàng dốc hết những đồng tiền nặng nhọc mà có được để lo cho bố mẹ, cho các em, cho gia đình. Tôi cứ luôn có một cảm giác Đặng Thị Thanh Hương làm toàn bộ mọi việc, tíu tít ngược xuôi không phải là để cho chị có một cuộc sống vương giả, mà là để lo lắng cho mọi người, cho bất kỳ ai đó khác mà không phải là chính bản thân mình. Chị luôn khoáng đạt san sớt niềm vui cũng như những khó khăn cùng người khác, sống nồng hậu hết mình với mọi người. Thế nhưng mọi nhiệt liệt và yêu thương mà chị dành cho người cha yêu quý của chị không may bị trọng bệnh đã không thể mang lại được phép nhiệm màu. Những ngày rút cục bên cạnh cha, níu lại sự sống cho cha, chị đã đau đớn bất lực trước khát vọng sống và niềm hy vọng vô cùng của cha. “Biết rằng sự sống mong manh/ Chiều nay nắng tắt sau mành mưa rơi/ Tiễn cha đi gió tơi bời/ Còn ly rượu rót trên môi ngập ngừng/Cha ơi giường đất bên sông/ Cha nằm nghe sóng ngày đông bớt dài/ Đường đời xa thẳm, mừng cho thi sĩ Đặng Thị Thanh Hương một nội lực viết, một nội lực sáng tạo. Không dễ gì qua chừng ấy gian truân, vấp váp và hết mình, ở tuổi 40, chị vẫn đầy ắp những thương. Tôi muốn chấm dứt bài viết này bằng 4 câu thơ chị viết cho riêng mình: “Ai cũng qua bao sóng vỡ cuộc đơi/ Về cuối dòng mới thấy mình trong lại/ Chợt yếu đuối chợt như bé dại/ Chợt thanh tân trong vắt nụ hôn đầu”. Lê Thị Thanh Bình |
Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013
Bản năng của một nhân kiệt thơ
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét